Nguyễn Thành Quang (a)

Đặng Thị Thu Thuỷ (b)

Nguyễn Văn Thà (c)

 

Tóm tắt. Trong bài viết này, chúng tôi bàn về một số giải pháp góp phần đổi mới phương thức đào tạo giáo viên toán trung học phổ thông theo hướng đáp ứng yêu cầu xã hội và hội nhập quốc tế, nhằm thu hút được nhiều học sinh giỏi vào học ngành sư phạm toán học.

 

1. Lý do của sự cần thiết phải đổi mới phương thức đào tạo giáo viên toán

1.1. Đổi mới chương trình sách giáo khoa phổ thông

               Hội nghị lần thứ  8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thông qua Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

               Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.”

               Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp người học tích lũy được kiến thức phổ thông vững chắc; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại.

Ngày 27/7/2017, bộ khung Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã được Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua, làm căn cứ biên soạn các chương trình môn học và hoạt động giáo dục. Ngày 19/01/2018, dự thảo các chương trình môn học được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo để xin ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân (xem [7]).

1.2. Cuộc cách mạng 4.0 là một thách thức lớn đối với giảng viên ở trường sư phạm, giáo viên ở trường phổ thông, sinh viên sư phạm

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0) sẽ tạo ra những biến chuyển rộng lớn trong đời sống, kinh tế - xã hội và đặt ra nhiều thách thức mới đối với ngành giáo dục và đào tạo. Hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước đang phát triển trong khu vực và thế giới đều đang phải đối mặt với những thách thức lớn về sự thiếu hụt lao động có trình độ cao và kỹ năng chuyên nghiệp để đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Chính vì vậy, câu hỏi đặt không chỉ với nền giáo dục Việt Nam mà của cả thế giới là làm thế nào để đào tạo ra nguồn nhân lực lao động để đáp ứng nhu cầu phát triển trong bối cảnh mới của thế giới.

Nền giáo dục cần chuyển đổi cách thức giáo dục từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, phương pháp giáo dục cũng phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa, hình thức giáo dục phải sẽ linh hoạt về thời gian, không gian, phù hợp với điều kiện và nhu cầu cá nhân. Ngành giáo dục và đào tạo cần phải đào tạo ra những công dân toàn cầu, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu phát triển trong bối cảnh mới này.

Về thay đổi tư duy trong quá trình dạy và học, chúng ta cần định vị một cách cụ thể cách thức, phương pháp của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Theo đó, sự thay đổi về quan niệm, tư duy của quá trình dạy và học là một trong những yếu tố then chốt để tiến tới đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nói chung và đổi mới theo hướng giáo dục 4.0 nói riêng.

Đối với quá trình dạy, cần chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hình thành phẩm chất và phát triển năng lực người học hay là tổ chức một nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp; chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng cả số lượng, chất lượng và hiệu quả; chuyển từ chỉ chú trọng giáo dục nhân cách nói chung sang kết hợp giáo dục nhân cách với phát huy tốt nhất tiềm năng cá nhân; chuyển từ quan niệm cứ có kiến thức là có năng lực sang quan niệm kiến thức chỉ là yếu tố quan trọng của năng lực.

Còn với việc học, cần chuyển từ học thuộc, nhớ nhiều sang hình thành năng lực vận dụng, thích nghi, giải quyết vấn đề, tư duy độc lập. Không chỉ học chỉ trong sách vở, qua tài liệu mà phải học qua nhiều hình thức khác như qua trò chơi, liên hệ tương tác, cung ứng đám đông, học bằng dự án… Đặc biệt, với học sinh, sinh viên là người lao động trong tương lai cần thay đổi suy nghĩ học một lần cho cả đời bằng việc học cả đời để làm việc cả đời.

Như vậy, nền giáo dục cần chuyển đổi cách thức giáo dục từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh. Trên cơ sở đó chương trình giáo dục phổ thông mới cần xác định các chuẩn năng lực chung và năng lực chuyên môn; các hình thức tích hợp hoặc phân hóa trong chương trình dạy học tùy theo cấp học. Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, nơi đào tạo trực tiếp nguồn nhân lực cho  cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì cần phải nhanh chóng đổi mới mô hình, chương trình và phương thức đào tạo, từ khâu tuyển sinh đến khâu đánh giá, kiểm định chất lượng, nhất là đánh giá sinh viên tốt nghiệp.

Nhanh chóng áp dụng mô hình giáo dục 4.0 trong giáo dục đại học. Thời đại đòi hỏi những con người có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định dựa trên cơ sở phân tích các chứng cứ và dữ liệu. Đây cũng là những kỹ năng mà sinh viên Việt Nam đang thiếu nhiều nhất. Để giải quyết vấn đề này, giáo dục 4.0 sẽ là một trong những giải pháp hiệu quả mà giáo dục đại học cần triển khai (xem [6]).

1.3. Xu hướng hội nhập, sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục toán học

Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức, trong đó giáo dục - đào tạo là nhân tố tiên quyết quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Phát triển giáo dục và đào tạo không thể tách rời với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ tổ quốc.

Nhận thức của xã hội đối với vai trò của khoa học cơ bản nói chung và toán học nói riêng đã có chuyển biến theo hướng tích cực trong nền kinh tế thị trường, thể hiện trên các lý do sau đây, mà Ủy ban Văn hóa khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (xem [2]) đã chỉ rõ:

-  Toán học có tầm quan trọng chủ chốt trong khoa học, công nghệ, kinh tế, thông tin và nhiều lĩnh vực khác của xã hội.

- Toán học là chìa khóa cho sự phát triển, hình ảnh của toán học ngày càng được nâng cao trong xã hội.

- Trí tuệ của con người hiện nay được coi là yếu tố chiến lược trong sự phát triển kinh tế của một đất nước. Không có môn khoa học nào có thể trợ giúp cho sự phát triển trí tuệ ở người học bằng môn toán. Do đó, giáo dục toán học có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà trường.

Trong buổi nói chuyện với sinh viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội tại Hội trường C2 vào ngày 22/04/2006, Bill Gates, Chủ tịch tập đoàn Microsoft, đã khẳng định:  “Tôi không thể nào nói hết được tầm quan trọng của công cuộc đào tạo toán học đối với không chỉ máy tính mà với mọi lĩnh vực khác (kinh tế học, kỹ sư). Toán là môn khoa học căn bản nhất. Khi còn trẻ, tôi hiểu được về máy tính là nhờ có một khả năng nhất định về toán. Chúng tôi ứng dụng toán vào trong rất nhiều hoạt động lập trình của mình” và “Các bạn hãy đầu tư lớn hơn cho Toán vì nó sẽ có ý nghĩa trong hầu hết các lĩnh vực” (xem [8]).

- Ngôn ngữ và các thành quả của toán học có tính chất phổ dụng trên toàn thế giới, làm cho toán học trở thành công cụ hợp tác quốc tế lý tưởng. Do đó, hội nhập và hợp tác quốc tế là một mặt mạnh và có truyền thống của cộng đồng toán học. “Không có lĩnh vực khoa học nào thâm nhập và ảnh hưởng đến các lĩnh vực của cuộc sống và công việc như Toán học. Từ chế tạo ô tô đến phân làn đường, từ mua bán trong siêu thị đến kiến trúc, từ dự báo thời tiết đến nghe MP3, từ đi tàu đến Internet – tất cả đều là Toán học!” (xem [1])

Chủ trương dạy một số môn khoa học tự nhiên, trong đó có môn toán bằng tiếng Anh trong trường phổ thông sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự khởi động từ các trường sư phạm. Vì vậy, cần phải chọn đào tạo sinh viên giỏi toán và ngoại ngữ. Hiện tại không có nhiều giáo viên toán phổ thông có khả năng sử dụng tiếng Anh tốt trong việc đọc và tham khảo các tài liệu chuyên môn để nâng cao chất lượng giảng dạy. Trong những năm gần đây, đã có nhiều trường quốc tế được lập ra ở Việt Nam vì thế nhu cầu tuyển dụng giáo viên toán và một số môn học bằng tiếng Anh ngày càng lớn.

2. Giải pháp phấn đấu

2.1. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

Chất lượng đội ngũ giảng viên đại học có vai trò quyết định trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục. Do vậy, việc phát triển đội ngũ giảng viên được coi là giải phát đột phá trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở trường sư phạm. Để phát nâng cao chất lượng  đội ngũ giảng viên cần thực hiện một số giải pháp sau:

-Tăng cường mở rộng liên kết với các trường đại học sư phạm danh tiếng trên thế giới để nâng cao năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên, luôn bổ sung, đổi mới giáo trình và tài liệu giảng dạy, tạo thuận lợi để giảng viên tiếp cận với kiến thức mới nhất trên thế giới.

- Tăng cường đưa giảng viên, sinh viên xuống trường phổ thông và mời giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục giỏi ở các trường phổ thông đến trường sư phạm chia sẻ kinh nghiệm và hướng dẫn thực hành nghề

Có nhiều giảng viên và giáo viên toán đã phấn đấu trở thành những nhà giáo ưu tú, giảng viên giỏi được được xã hội tôn vinh, học sinh và phụ huynh tin yêu, kính trọng. Ngành toán của Trường Đại học Vinh đã có một số kinh nghiệm trong xây dựng quan hệ hợp tác về đào tạo và nghiên cứu toán học với nhiều trường đại học, viện khoa học, tổ chức quốc tế và các cá nhân nhà khoa học. Các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học toán ở nhà trường có những biểu hiện khởi sắc. Đơn cử, chủ yếu nhờ thành tựu trong nghiên cứu khoa học với nhiều công bố quốc tế mà Khoa Sư phạm Toán học, Trường Đại học Vinh đã ký kết thành công được một thoả thuận hợp tác với Trung tâm Vật lý lý thuyết quốc tế (ICTP) về nghiên cứu và đào tạo giảng viên toán. Trong khuôn khổ của thoả thuận này, đã có nhiều giảng viên trẻ của ngành toán đã được sang học tập hoặc thực tập nghiên cứu tại Tries (Italy) trong thời gian dài với sự tài trợ hoàn toàn kinh phí của phía bạn.

2.2. Nâng cao chất lượng đầu vào sinh viên sư phạm

Môn Toán là môn dẫn đầu số lượng thí sinh bị điểm liệt trong các kỳ thi trung học phổ thông quốc gia, là môn thi có nhiều điểm tuyệt đối nhất nhưng cũng là môn có số lượng thí sinh bị điểm liệt nhiều nhất. Theo phổ điểm Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố năm 2015, môn Toán cả nước có hơn 12.000 thí sinh bị điểm liệt (từ 1 điểm trở xuống), gần 95.200 thí sinh đạt từ 6 đến 7 điểm. Có 8.356 em từ 9 điểm trở lên trong đó 86 em được điểm tuyệt đối. Năm 2016, theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước có 69 bài thi đạt điểm 10 và năm 2015 có 406 bài thi đạt điểm tuyệt đối. Năm 2017, môn Toán có 278 điểm 10 (trong tổng toàn bộ số lượng điểm 10 là 4.200) và 761 điểm 0. Nhiều người lo ngại việc điểm 10 tăng mạnh liệu có phải chất lượng giáo dục của chúng ta cũng tăng hay chỉ là những con số ảo? Việc quá nhiều điểm 10 phản ánh điều gì?  Ví như môn Toán nếu tính các thí sinh được 7 điểm trở lên thì có khoảng gần 200.000 thí sinh tức là chiếm ¼ số thí sinh dự thi (xem [5]).

Năm học 1996-1997 được coi là thời kỳ “hoàng kim” của ngành sư phạm, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra quy chế miễn học phí cho học sinh đăng ký vào ngành này. Sự khuyến khích đó đã khiến cho rất nhiều học sinh khá, giỏi “đầu quân” vào các trường sư phạm. Sự cạnh tranh để được vào ngành sư phạm đã lên đến cao trào khi có năm, thí sinh để vào được khoa Toán của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phải đạt 28 điểm hoặc vào Trường Đại học Vinh là 23 điểm cho 3 môn thi toán, lý, hoá. Tuy nhiên, những năm gần đây, điểm chuẩn vào ngành sư phạm không được cao và đang có xu hướng giảm dần, nhiều học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông loại giỏi không chọn nghề dạy học.

Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, các nhà khoa học, các nhà quản lý và các cán bộ lãnh đạo có trách nhiệm của nước ta đã nhận thấy tình hình thực tế: Trong tương lai không xa nhiều trường chuyên và trường đại học và viện nghiên cứu sẽ thiếu giáo viên, giảng viên giỏi và cán bộ nghiên cứu thật sự có năng lực trong lĩnh vực khoa học cơ bản và công nghệ. Mặt khác, do nền kinh tế thị trường đang phát triển, nhiều sinh viên giỏi không có nguyện vọng học ngành sư phạm. Hơn nữa chương trình đào tạo đại trà hiện nay chưa đáp ứng được việc đào tạo tài năng trẻ. Vì vậy, bồi dưỡng khuyến khích tài năng trẻ là điều đáng quan tâm nhất hiện nay để có lực lượng tiếp nối. Do đó, cần xây dựng thành công một số chương trình đào tạo tiên tiến hoặc mở hệ đào tạo cử nhân chất lượng cao nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, sớm đạt được sự công nhận về chất lượng và uy tín đào tạo trong khu vực quốc tế tạo nguồn thu hút người học.

Cần có đột biến trong chính sách thu hút người giỏi và tiêu chí lựa chọn ứng viên đối với công tác tuyển dụng giáo viên và tuyển sinh cho ngành sư phạm toán học. Các trường có ngành sư phạm toán học cần tuyển được những sinh viên có học lực giỏi từ các nguồn khác khác nhau với nhiều phương thức tuyển chọn hiệu quả. Nhà giáo Văn Như Cương nhận định: “Xã hội cần đánh giá mức độ đóng góp của ngành sư phạm để có những cú hích thích đáng nhằm thu hút người tài giỏi, tâm huyết theo nghề”. GS.TS Đinh Quang Báo nêu quan điểm: “Đất nước muốn đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao thì phải có những thầy cô giáo giỏi. Vì vậy, chúng ta vẫn phải có chính sách thu hút học sinh giỏi “đầu quân” vào các trường sư phạm. Còn như hiện nay, việc cào bằng đầu tư miễn học phí cho tất cả sinh viên sẽ không hút được người giỏi, cũng không tạo động lực nâng chất lượng đào tạo của các trường sư phạm. Nhiều địa phương còn chưa đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo sinh viên sư phạm đáp ứng nhu cầu của xã hội, dự báo về cung - cầu nguồn nhân lực không “gặp nhau” cũng là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mỗi năm có hàng chục nghìn sinh viên tốt nghiệp các trường sư phạm thất nghiệp hoặc chuyển sang làm các công việc khác.”

Các địa phương trong cả nước đã và đang có đột biến trong chính sách thu hút người giỏi và tiêu chí lựa chọn ứng viên đối với công tác tuyển dụng giáo viên và tuyển sinh cho ngành sư phạm toán học. Nhiều trường phổ thông cần tuyển được những cử nhân có hạng tốt nghiệp khá, giỏi từ các nguồn đào tạo khác khác nhau với nhiều phương thức tuyển chọn hiệu quả, chất lượng cao. Tuy nhiên, theo điều tra của chúng tôi trên địa bàn hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh có rất ít giáo viên toán trung học phổ thông được đào tạo từ nguồn hệ cử nhân tài năng hoặc hệ chất lượng cao của các trường đại học.

Cần quy định rõ về các chế độ, chính sách ưu tiên như tiền lương, phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp, phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng; có chế độ thu hút sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, các nhà khoa học trong và ngoài nước làm giảng viên của cơ sở giáo dục đại học.

2.3. Đổi mới chương trình đào tạo

            Đổi mới phương pháp học tập bộ môn theo hướng tăng cường thực hành, tự học cho sinh viên; áp dụng phương pháp học tập tích cực, có hiệu quả; đẩy mạnh việc áp dụng các phương pháp dạy học mới và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học theo hướng tăng cường ứng dụng; kết hợp nhiều hình thức kiểm tra đánh giá: tự luận, trắc nghiệm, vấn đáp, phỏng vấn, viết thu hoạch, khóa luận, tiểu luận, bài tập lớn, câu lạc bộ, tham quan, xêmina, báo cáo, viết bài báo khoa học; tổ chức tốt các đợt tập giảng, thực tập sư phạm, thao giảng, các hội thi nghiệp vụ sư phạm các cấp (đặc biệt là ở cấp cơ sở), câu lạc bộ về lịch sử toán học nhằm rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ và giáo dục lòng yêu nghề, mến trẻ cho giáo viên toán và học sinh trung học phổ thông, giảng viên và sinh viên ngành sư phạm toán.

Sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các địa phương này đòi hỏi sự hỗ trợ có hiệu quả của khoa học công nghệ, trong đó giáo dục toán học đóng vai trò quan trọng. Chương trình và nội dung giảng dạy của các trường ngày càng cập nhật với các chương trình đào tạo tiên tiến, nhiều trường đã có những nội dung dạy và học toán bằng tiếng Anh hoặc song ngữ  Anh – Việt. Vì vậy, các trường trung học phổ thông nói trên rất cần những giáo viên giỏi, trẻ có trình độ tốt về toán học, tin học, tiếng Anh và có các phương pháp dạy học tiên tiến, được đào tạo từ những chương trình chất lượng cao. Đơn cử, nhiều sinh viên ngành sư phạm toán học, Trường Đại học Vinh, tốt nghiệp đại học, đã được một số sở giáo dục và đào tạo tuyển dụng làm giáo viên tại trường trung học phổ thông chuyên ngay sau khi ra trường và họ còn sớm được các trường cử tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi tham dự các kỳ thi olimpic quốc gia, quốc tế và khu vực.

Từ năm học 2017 – 2018, Trường Đại học Vinh là cơ sở thứ hai trong cả nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép mở mã ngành tuyển sinh đào tạo ngành sư phạm toán học chất lượng cao, trong đó có nhiệm vụ đào tạo giáo viên dạy toán bằng tiếng Anh để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế trong thời kì mới. Việc mở ngành đào tạo sư phạm có các học phần dạy toán tiếng Anhrất cần thiết. Đầu ra của sinh viên mã ngành này rất tốt. Nhiều em học chuyên Anh giỏi toán hoặc chuyên toán giỏi tiếng Anh hoặc có những học sinh phổ thông giỏi cả toán tiếng Anh sẽ theo học. Qua tìm hiểu, hè năm 2017 Trường Đại học Sư phạm Hà nội đã có khoá đầu tiên tốt nghiệp, các em đều liên hệ được công tác đúng ngành nghề. Nhu cầu của trường dân lập và tới đây các trường công lập sẽ dạy học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông song bằng (cả bằng Việt Nam và bằng quốc tế liên kết). Nhiều trường phổ thông đã nhận dạy toán tiếng Anh cho học sinh từ lớp 6 trở lên, thậm chí một số trường tổ chức dạy học song ngữ và cấp song bằng. Năm học 2017-2018, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã triển khai thí điểm dự án chương trình đào tạo song bằng tú tài trung học phổ thông quốc gia Việt Nam và tú tài Anh quốc - chứng chỉ A-Level tại Trường Trung học Phổ thông Chu Văn An. Sau thời gian thí điểm, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đánh giá việc kết hợp với các tổ chức giáo dục tiên tiên trên thế giới để đưa các chương trình song ngữ vào trường công lập sẽ giúp học sinh nâng cao khả năng sử dụng ngoại ngữ.

2.4. Về cơ chế chính sách đầu ra cho sinh viên sư phạm

Đầu ra cho sinh viên sư phạm hiện nay là một trong những khó khăn lớn nhất trong việc đào tạo sinh viên sư phạm.

Cần có những mối liên kết với các trường phổ thông công lập, các trường chất lượng cao, các trường ngoài công lập, các trường quốc tế trong khu vực và tại Việt Nam ngay trong quá trình đào tạo, thực tập sư phạm để vừa rèn nghề tốt cho sinh viên, vừa chuẩn bị đầu ra cho họ.

Nghiên cứu dự báo nhu cầu giáo viên các môn học, các cấp học trong năm năm, mười năm, mười lăm năm,.... để quyết định số lượng đào tạo sinh viên sư phạm cho hợp lý. 

Đề xuất cơ chế tuyển dụng sinh viên sư phạm khi ra trường, mức lương trung bình khá hơn so với một số ngành nghề khác trong xã hội.

Cần có đột biến trong chính sách thu hút người giỏi và tiêu chí lựa chọn ứng viên đối với công tác tuyển dụng giáo viên và tuyển sinh cho ngành sư phạm toán học. Các trường có ngành sư phạm toán học cần tuyển được những sinh viên có học lực khá trở lên từ các nguồn khác khác nhau với nhiều phương thức tuyển chọn và đào tạo hiệu quả.

Đến thời điểm hiện nay, việc miễn học phí không còn là động lực duy nhất để thu hút sinh viên vào các trường sư phạm nữa mà cần có giải pháp “mạnh hơn” như: cấp học bổng, được ở trọ miễn phí và khi tốt nghiệp được phân bổ công việc ngay giống như sinh viên các trường công an và quân đội (xem [2]).

2.3. Đổi mới phương pháp giảng dạy và chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo của các viện cần được cập nhật, làm phong phú thường xuyên nhằm theo kịp nhu cầu phát triển cũng như xu thế sử dụng lao động của xã hội. Tham khảo khung chương trình đào tạo của nhiều trường trong và ngoài nước; chủ động ghép nhập các học phần trong khung chương trình có liên quan lại với nhau; đảm bảo tính thống nhất, cơ bản, hiện đại, khả thi của khung chương trình, không quá tải và tránh hàn lâm; tinh giản nội dung giảng dạy; mạnh dạn cắt bỏ những nội dung hoặc không cần thiết, hoặc thừa, hoặc không có giá trị, hoặc lạc hậu, hoặc chỉ vì lợi ích của nhóm chuyên môn riêng biệt; tăng cường số môn học tự chọn; triển khai biên soạn ngân hàng đề thi học phần, hoàn thành danh mục tài liệu học tập, tham khảo và giáo trình tại thư viện các trường; số hóa nhiều tại liệu về toán tạo thuận lợi cho thầy và trò tham khảo trong giảng dạy và học tập.

             Đổi mới phương pháp học tập bộ môn theo hướng tăng cường thực hành, tự học cho sinh viên; áp dụng phương pháp học tập tích cực, có hiệu quả; đẩy mạnh việc áp dụng các phương pháp dạy học mới và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học theo hướng tăng cường ứng dụng; kết hợp nhiều hình thức kiểm tra đánh giá: tự luận, trắc nghiệm, vấn đáp, phỏng vấn, viết thu hoạch, khóa luận, tiểu luận, bài tập lớn, câu lạc bộ, tham quan, xêmina, báo cáo, viết bài báo khoa học; tổ chức tốt các đợt tập giảng, thực tập sư phạm, thao giảng, các hội thi nghiệp vụ sư phạm các cấp (đặc biệt là ở cấp cơ sở), câu lạc bộ về lịch sử toán học nhằm rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ và giáo dục lòng yêu nghề, mến trẻ cho giáo viên toán và học sinh THPT, giảng viên và sinh viên ngành sư phạm toán.

Trong quá trình học tập, sinh viên phải làm quen với việc nghiên cứu khoa học từ năm thứ hai dưới sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong khuôn khổ dự án, đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, cấp trường… dưới dạng đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên và thậm chí có thể tham gia như thành viên trong các đề tài nghiên cứu. Qua đó, sinh viên được trau dồi khả năng tư duy sáng tạo độc lập, khả năng làm việc tập thể đa ngành và khả năng thích nghi tốt với các biến động, đổi mới liên tục của giáo dục, khoa học, công nghệ. Phấn đấu, không những chỉ tham gia báo cáo tại hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học được tổ chức hàng năm tại trường mà sinh viên còn được tài trợ để tham gia các hội nghị khoa học trong nước và hội nghị khoa học quốc tế, là đồng tác giả với các thầy cô trong một số bài báo được công bố trên các tạp chí có uy tín. Ngoài ra, các hoạt động ngoại khóa như văn nghệ, thể thao, tình nguyện, giao lưu, tập luấn về các kỹ năng mềm… được tổ chức thường xuyên cũng đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực, giúp cho sinh viên có những trải nghiệm hữu ích, hứng thú hơn trong học tập và vững vàng tự tin hơn trong cuộc sống.

3. Kết luận và kiến nghị

Từ nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và căn cứ vào mục tiêu của đổi mới giáo dục, chúng ta có thể khẳng định rằng: Nhiệm vụ đào tạo và phát triển giáo viên là một trong những giải pháp tích cực nhất có vai trò tăng khả năng thích ứng của nhà trường trước sự thay đổi của xã hội. Do đó, các đề án đào tạo cử nhân ngành sư phạm chất lượng cao nhằm cung cấp cho các nhà trường nguồn giáo viên, góp phần thực hiện tốt chiến lược giáo dục quôc gia theo tinh thần và nội dung của Nghị quyết số 29-NQ/TW cần phải được triển khai ở các trường sư phạm có uy tín về đào tạo đã được xã hội khẳng định.

Các bộ, ngành sớm bố trí kinh phí đầu tư để nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị cho các trường đại học sư phạm, quy hoạch lại hệ thống trường sư phạm để đầu tư có trọng điểmchiến lược.

Cần quy hoạch mạng lưới các trường đào tạo giáo viên, một mặt đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng có chất lượng; mặt khác có như thế mới có thể đầu tư trọng điểm đáp ứng yêu cầu đào tạo.

Kiến nghị Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép thí điểm xã hội hóa trong đầu tư để tăng nguồn vốn cho các công trình xây dựng hạ tầng, kể cả công nghệ thông tin; xây dựng các phòng thí nghiệm, phòng thực hành, phòng nghiên cứu, phòng học tiếng đủ tiêu chuẩn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1] Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức, Trang web về Năm Toán học – 2008, http://www.jahr-der-mathematik.de.

[2] Hội Toán học Việt Nam, Thông tin Toán học (1999-2017).

Giáo dục, 8:49 Thứ Sáu ngày 20/05/2016 .

[3] Bích Lan, Trên 70.000 sinh viên sư phạm thất nghiệp: Nhìn lại miễn giảm học phí, Hànộimới, 20/05/2016.

[4] Nguyễn Thành Quang, Nguyễn Văn Thà, Phan Anh Tuyến, Góp phần đổi mới phương thức đào tạo giáo viên toán trung học phổ thông theo hướng đáp ứng yêu cầu xã hội và hội nhập quốc tế, Tạp chí Giáo dục, 08/2014, tr. 44-46.

[5] Hoàng Thanh, Mưa điểm 10 ở kỳ thi THPT quốc gia 2017 có gì bất thường, Infornet, 14:02 - 07/07/2017.

[6] Thanh Thủy, Giáo dục Việt Nam trước yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0, Báo điện tử Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 09:17, 17/06/2017.

[7] Nguyễn Minh Thuyết, Giới thiệu dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới, Tài liệu buổi nói chuyện của Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết về chương trình giáo dục phổ thông mới, Trường Đại học Vinh, 09/03/2018.

[8] Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trang web của Viện Toán Tin học và ứng dụng, Toán Tin – ngành học không thể thiếu trong thời đại công nghệ số, 21/06/2016.

[9] Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, “Đề án đổi mới chương trình đào tạo giáo viên”, 04/2014.

 

(a) PGS.TS. Nguyễn Thành Quang

Bộ môn Đại số - Hình học, Viện Sư phạm tự nhiên, Trường Đại học Vinh

Số 182 – Đường Lê Duẩn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

E-mail: ntquangdhv@gmail.com

 (b) TS. Đặng Thị Thu Thuỷ

Viện Khoa học Giáo dục

Số 101, Đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội

E-mail: thuy311@gmail.com

 (c) ThS. NCS. Nguyễn Văn Thà

Trường Trung học Phổ thông Hùng Vương

 Số 14A - Đường số 1, Phường 16, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh     

E-mail: nvtha.math@gmail.com