Website Khoa Vật lý và Công nghệ giai đoạn trước 2017

 

1. Giới thiệu chung

Ngành Cử nhân Sư phạm Vật lí của Trường Đại học Vinh là ngành đào tạo với 55 năm truyền thống. Là ngành đào tạo có chất lượng cao và uy tín trong cả nước, các sinh viên Cử nhân Sư phạm Vật lí của Nhà trường sau khi tốt nghiệp được tiếp nhận công tác tại các trường phổ thông, cao đẳng, đại học và các cơ sở nghiên cứu khoa học trong cả nước.  

Với truyền thống “Liên tục đổi mới để nâng cao chất lượng đào tạo” của tập thể cán bộ qua các thời kỳ, năm 2014 Khoa Vật lý và Công nghệ đã được Nhà trường cho phép thí điểm xây dựng chương trình đào tạo tiếp cận quốc tế CDIO và được áp dụng từ khóa 56 (năm học 2015-2016). Đây là chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, Nghị quyết số 88/2014/QH13 của quốc hội về đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau 2015, Quyết định số 404/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ và Nghị quyết NQ666/ĐU của Đảng ủy Trường về đào tạo gắn với nhu cầu của xã hội.

Chương trình đào tạo (CTĐT) ngành Cử nhân sư phạm Vật lý được biên soạn dựa trên chuẩn đầu ra CDIO theo hướng phát triển năng lực người học, đáp ứng các chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông và tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế. Để xây dựng CTĐT khoa Vật lí & Công nghệ đã tiến hành các công việc như:

            - Tiến hành tổng kết, đánh giá chương trình chương trình đào tạo giáo viên Vật lý hiện hành, xác định rõ những ưu điểm cần kế thừa, phát huy và các hạn chế, bất cập cần khắc phục để đáp ứng yêu cầu đào tạo giáo viên Vật lí, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là đáp ứng giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015.

            - Nghiên cứu bối cảnh kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa trong nước và quốc tế nhằm nhận thức rõ những đặc điểm và yêu cầu cần chú ý trong việc xây dựng CTĐT mới.

            - Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế nhằm rút ra được xu thế chung về xây dựng CTĐT giáo viên Vật lý nhất là kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục phát triển.

            - Nghiên cứu chuẩn giáo viên THPT và tham khảo chuẩn giáo viên của một số nước tiêu biểu cho các khu vực khác nhau (châu Á, châu Âu và Mỹ, Úc) để xây dựng các chuẩn đầu ra theo hướng phát triển năng lực người học cho ngành cử nhân sư phạm Vật lí.

            - Xây dựng chuẩn đầu ra ngành Cử nhân sư phạm Vật lý theo tiếp cận CDIO trên cơ sở các yêu cầu thực tiễn đất nước và định hướng phát triển Trường Đại học Vinh trở thành thành viên của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN) có chương trình đào tạo đạt các chuẩn AUN QA.       

- Lấy ý kiến của giáo viên, cán bộ quản lý của các trường THPT, các nhà khoa học và các chuyên gia giáo dục để điều chỉnh hoàn thiện chuẩn đầu ra, từ đó xây dựng chương trình đào tạo Cử nhân sư phạm Vật lý theo tiếp cận CDIO. Mục tiêu chính của chương trình đào tạo là sinh viên sau khi tốt nghiệp có đầy đủ kiến thức và kỹ năng để thực hiện các nhiệm vụ của giáo viên vật lý ở trường phổ thông, có năng lực thiết kế và vận hành chương giáo dục nhà trường phù hợp với yêu cầu đổi mới của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

So với chương trình đào tạo trước đây, CTĐT giáo viên vật lý theo tiếp cận CDIO được thiết kế rất khoa học. Theo đó, kiến thức vật lý cơ bản được thiết kế cân đối giữa các phần; cập nhật các kiến thức mới và kiến thức liên ngành; tăng thời lượng đào tạo các kỹ năng của giáo viên vật lý; gắn kết giữa đào tạo kiến thức với các kỹ năng nghề, giữa lý thuyết với thực tiễn; tăng cường năng lực tiếng Anh chuyên ngành, kiến thức pháp luật, kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ thông tin và truyền thông (ICT).

Chương trình đào tạo được thiết kế gồm hai giai đoạn, trong đó giai đoạn I (gồm 3 học kỳ) học chung với các sinh viên cùng khối nhóm ngành (SP Toán, SP Hóa, SP Sinh và SP Tin). Sang giai đoạn II, chương trình được thiết kế mềm dẻo để sinh viên có thể đăng ký lựa chọn các môn học theo hướng chuyên sâu về phương pháp giảng dạy hoặc theo hướng chuyên sâu về nghiên cứu Vật lý hiện đại.

Ngoài việc áp dụng các phương pháp dạy học mới, Hội đồng đào tạo khoa Vật lý & Công nghệ cũng đã chọn giáo trình quốc tế bằng tiếng Anh (University Physics) làm giáo trình chính cho dạy học các học phần chủ chốt về kiến thức nền tảng vật lý để tương thích với kiến thức vật lý và kỹ năng tiếng Anh chuyên ngành với các trường đại học trong khu vực Đông Nam Á.

2. Thời gian đào tạo, văn bằng được cấp, mã ngành và môn xét tuyển

§  Thời gian đào tạo:       4 năm     

§  Văn bằng được cấp:    Cử nhân sư phạm Vật lí.

§  Mã ngành:                    D140211        

§  Môn xét tuyển:            Toán, Lí, Hóa hoặc Toán, Lí, Tiếng Anh

3. Hệ thống các phòng thực hành, thí nghiệm

Cùng với việc phát triển chương trình đào tạo theo tiếp cận của quốc tế, trang thiết bị thí nghiệm cũng đã được Nhà trường đầu tư đồng bộ và tương thích. Hiên nay, ba phòng thí nghiệm đã được thiết kế rộng rãi và đầy đủ các thiết bị phụ trợ (điều hòa, máy chiếu, bảng viết…) để có thể tổ chức các hình thức dạy học theo CDIO:

§  Phòng thí nghiệm Cơ - Nhiệt

§  Phòng thí nghiệm Điện - Quang

§  Phòng thực hành dạy học vật lí.

Ngoài ba phòng thí nghiệm nói trên, Nhà trường đã đầu tư Phòng thí nghiệm Vật lý tiến tiến vào loại hiện đại của khu vực Đông Nam Á để phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu của cán bộ và sinh viên.

4. Cơ hội việc làm

            Với mục tiêu đã đề ra, sinh viên ngành Cử nhân sư phạm vật lý của Trường Đại học Vinh sau khi tốt nghiệp có thể:

§  Giảng dạy vật lí ở trường phổ thông, trường chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học trong cả nước.

§  Làm việc tại các viện nghiên cứu về vật lý và các lĩnh vực liên quan;

§  Làm việc tại các cơ sở ứng dụng khoa học kĩ thuật trên các lĩnh vực: quang tử, cơ - điện, sản xuất, kinh doanh thiết bị khoa học - kĩ thuật.

5. Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp

§  Học thạc sỹ và tiến sĩ các chuyên ngành thuộc Vật lí học và PPGD Vật lí.

§  Học văn bằng thứ hai: Cử nhân Sư phạm Vật lí có thể học thêm các ngành về khoa học tự nhiên hoặc các ngành khối kĩ thuật, công nghệ và kinh tế.