ThS. Trần Thị Gái - Khoa Sinh học, Trường Đại học Vinh

                                  

            Tóm tắt: Xây dựng mô hình hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một bước quan trọng trong quá trình dạy học. Tổ chức tốt hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ giúp đạt được các mục tiêu dạy học như: hình thành cho học sinh kiến thức, phát triển năng lực, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Bài viết xác định rõ định nghĩa, đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo, làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn học theo định hướng phát triển năng lực HS.

            Từ khóa: mô hình, trải nghiệm sáng tạo, hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

1. Đặt vấn đề

Dạy học (DH) không chỉ là hình thành tri thức cho học sinh (HS) mà quan trọng hơn là dạy cho các em biết cách học, cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn tức là thông qua hoạt động học tập hình thành cho HS các năng lực để biến quá trình học thành quá trình phát triển tư duy sáng tạo. Một trong những giải pháp giáo dục hiện đại giúp phát huy tối đa năng lực người học là tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) trong các tình huống nhận thức và thực tiễn. Tổ chức HĐTNST là thực hiện nguyên lí “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn”; Với việc đưa HS vào các hoạt động trải nghiệm thực tế, người học sẽ có cơ hội nhìn vấn đề từ nhiều góc độ và quan điểm khác nhau, tránh bị áp đặt; và có cơ hội đưa ra giải pháp mang tính sáng tạo mang dấu ấn cá nhân.

             1. Khái niệm HĐTNST        

            Theo Từ điển Tiếng việt [Hoàng Phê (2003), trang 1020], "trải có nghĩa là đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng; còn nghiệm có nghĩa là kinh qua thực tế nhận thấy điều nào đó là đúng. Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần; tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có".

            Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, "trải nghiệm theo nghĩa chung nhất là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức…) trong đời sống tâm lí của từng người. Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lí học, là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân. Sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới, có thể sáng tạo trong bất kì lĩnh vực nào: khoa học (phát minh), nghệ thuật, sản xuất - kĩ thuật (sáng tác, sáng chế), kinh tế, chính trị,…".

            Từ những nghiên cứu trên, với mục đích nghiên cứu của mình, chúng tôi quan niệm: HĐTNST trong dạy học là nhiệm vụ học tập gắn với thực tiễn được tổ chức theo các hình thức đa dạng, linh hoạt trong đó HS được trải nghiệm đề xuất ý tưởng, thiết kế, tổ chức, đánh giá kết quả thực hiện, qua đó vừa lĩnh hội được nội dung học tập, vừa hình thành các kĩ năng sống, kĩ năng tư duy, vận dụng kiến thức, kinh nghiệm để giải quyết một cách linh hoạt, chủ động, sáng tạo những vấn đề nhận thức và thực tiễn.

2. Đặc điểm HĐTNST

 HĐTNST là một nhiệm vụ học tập gắn với thực tiễn mà HS cần phải vận dụng vốn kinh nghiệm sẵn có để trải nghiệm, phân tích, khái quát hóa thành kiến thức của bản thân và vận dụng để giải quyết vấn đề trong bối cảnh thực tiễn.

HĐTNST có nội dung rất đa dạng và mang tính tích hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập như: vật lí, hóa học, địa lí,…Ngoài ra, HĐTNST còn gắn những nội dung cần thiết cho người học bao gồm: giáo dục kĩ năng sống, giáo dục lao động,  giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội, giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm, giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản,...

HĐTNST có thể tổ chức tại nhiều địa điểm khác nhau ở trong hoặc ngoài nhà trường như: lớp học, thư viện, phòng đa năng, phòng truyền thống, sân trường, vườn trường, công viên, vườn hoa, viện bảo tàng, các di tích lịch sử và văn hóa, các danh lam thắng cảnh, các công trình công cộng, nhà các nghệ nhân, các làng nghề, cơ sở sản xuất,... hoặc ở các địa điểm khác ngoài nhà trường có liên quan đến chủ đề hoạt động.

HĐTNST được tổ chức dưới nhiều hình thức như: hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, lao động công ích, sân khấu hóa, tổ chức các ngày hội,...

3. HĐTNST với việc phát triển năng lực

Có nhiều định nghĩa về năng lực: Năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” (Tremblay, 2002). Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính tâm lý cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,... để thực hiện thành cNăng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002). Năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” (Tremblay, 2002). Năng lực: là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” (Québec- Ministere de l’Education, 2004). Tất cả các định nghĩa trên đều có điểm chung “Năng lực là sự làm chủ những kiến thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống”. Năng lực gồm ba thành tố có bản kiến thức, kĩ năng và thái độ.

Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu (yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệm); năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo); năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học nhất định (năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất).

HĐTNST có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực HS. Trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học sinh được hoạt động thực hành trải nghiệm những kiến thức, kĩ năng đã học trong các môn học; đồng thời qua đó tiếp tục tìm tòi, mở rộng kiến thức và khả năng ứng dụng của kiến thức vào thực tiễn. Từ việc tham gia hoạt động trải nghiệm, học sinh sẽ được vận dụng kiến thức được học ở trong trường, qua đó học sinh được mở rộng, tìm tòi, sáng tạo hơn trong kiến thức. Khi đặt ra một yêu cầu trải nghiệm, học sinh phải hoạt động, phải hoàn thành một sản phẩm, và sản phẩm đó chính là kết quả hoạt động trải nghiệm. Sản phẩm đó không theo khuôn mẫu nào, đó chính là sự sáng tạo của học sinh khi giải quyết vấn đề được đặt ra. Với nội dung và hình thức nêu trên, hoạt động trải nghiệm sáng tạo có vai trò quyết định đối với việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh.

Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, cùng với việc áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học các môn học để học sinh được học qua hoạt động, "Hoạt động trải nghiệm sáng tạo" là cầu nối để học sinh "học qua làm" trong thực tiễn, từ đó mới giúp cho kiến thức "biến" thành năng lực. Thông qua hoạt động trải nghiệm, học sinh phải thực hiện bằng hành động; phải tìm hiểu, sử dụng các sản phẩm, công cụ và thiết bị trong thực tế; phải nghe, nói, viết, làm; phải giao tiếp, hợp tác với bạn bè, thầy cô và những người xung quanh để hoàn thành nhiệm vụ.

4. Nguyên tắc xây dựng mô hình HĐTNST

            - Đảm bảo mục tiêu dạy học: giúp HS lĩnh hội tri thức (tri thức khoa học SH và tri thức phương pháp), phát triển năng lực chung và năng lực đặc thù của bộ môn, rèn kĩ năng sống.

            - Đảm bảo tính khoa học: giúp HS chiếm lĩnh hệ thống tri thức cơ bản, hiện đại về các lĩnh vực khoa học thông qua trải nghiệm. HĐTNST phải được thiết kế theo định hướng phát triển năng lực tư duy khoa học giúp HS tiếp xúc, hình thành và phát triển các phương pháp nghiên cứu khoa học.

            - Đảm bảo tính sư phạm: HĐTNST phải mang tính đặc trưng của môn học đồng thời gần gũi, phù hợp với cách suy nghĩ, nhu cầu, sở thích của học sinh.

            - Đảm bảo tính thực tiễn: HĐTNST phải gắn liền với thực tiễn cuộc sống và có tính ứng dụng cao. HS được học trong thực tiễn và bằng thực tiễn.

            - Đảm bảo tính đa dạng, phong phú: Cần tạo ra nhiều loại hoạt động phù hợp với từng môi trường tổ chức đảm bảo cho HS được trải nghiệm, từ đó rút ra kiến thức và vận dụng sáng tạo vào các tình huống mới. Tùy theo hoàn cảnh và đối tượng, tùy theo đặc trưng của nội dung mà khuyến khích các hình thức giáo dục trải nghiệm khác nhau.

5. Xây dựng mô hình HĐTNST

Năm 1984, Kolb đưa ra mô hình học tập trải nghiệm [5, trang 21]. Theo đó, chu kì học tập của người học bao gồm bốn giai đoạn: trải nghiệm cụ thể; phản ánh qua quan sát; khái quát trừu tượng; thực hành chủ động. Dựa trên lí thuyết học tập trải nghiệm của Kolb, chúng tôi đã thiết kế mô hình HĐTNST phù hợp với việc giảng dạy môn SH ở trường trung học phổ thông gồm 5 giai đoạn (hình 1): 

(1) Trải nghiệm, khám phá: sẵn sàng cho trải nghiệm mới thông qua việc thực hiện những hoạt động/ tình huống cụ thể và thực tế. Người học tiến hành các hành động trên đối tượng (hoặc có thể đọc một số tài liệu, nghe giảng, xem video và chủ đề đang học,…). Tất cả các yếu tố đó sẽ tạo ra các kinh nghiệm nhất định cho người học (kinh nghiệm ở đây và bây giờ). Chúng trở thành “nguyên liệu đầu vào” quan trọng của quá trình học tập. Tuy vậy kinh nghiệm quan trọng nhất là những kinh nghiệm mà các giác quan có thể cảm nhận được. Như vậy sự trải nghiệm ở đây cho thấy chất lượng của nó phụ thuộc vào mức độ người học tham gia và hơn nữa đó phải xuất phát từ tình huống thực tế thì trải nghiệm đó mới đáng giá, mới có ý nghĩa và được lựa chọn để người học trải nghiệm và được xem như là tạo tình huống có vấn đề cho người học.

(2)  Hoạt động suy ngẫm – phân tích – khái quát hóa kiến thức: xử lí những gì tìm được theo ý tưởng, quan điểm hay cung cách nào đó, chẳng hạn thành định lí, nguyên tắc, công thức, mô hình, qui tắc v.v…, tức là phát triển những sự kiện thu được thành công cụ, sản phẩm.

(3)  Hoạt động thực hành - áp dụng – sáng tạo: đó là thử nghiệm sau khi “nghiên cứu” vừa để  kiểm  tra độ  tin  cậy  của  các  hành động  xử  lí,  vừa để  học  kĩ  năng chuyên  biệt ứng  với  tri  thức đó và áp dụng trong tình huống mới theo hướng sáng tạo. 

Cycle Diagram(4) Hoạt động đánh giá: để rà soát lại toàn bộ quá trình và kết quả học tập yếu tố nội dung nhất định, có thông tin để điều chỉnh hay bổ sung hoạt động. Những hoạt động dạng này cũng có chức năng phát triển thái độ, xúc cảm, tình cảm và giá trị ở người học, vì từ bản chất, đánh giá gắn liền với giá trị và nhu cầu, lợi ích con người. Hoạt động đánh giá có thể lồng ghép vào các giai đoạn học tập.

           

   

                                            

 

 

 

                                            

 

 

 

 

 

 

            

Hình 1. Mô hình HĐTNST

             Trải qua một chu trình HĐTNST, HS sẽ tự điều chỉnh (kế hoạch, cách thức học) mình và tiếp tục sử dụng những kinh nghiệm vừa học được để bắt đầu cho HĐTNST tiếp theo.

            Kết luận

            Hoạt động hoạt động dạy học cần được công nghệ hoá. Xây dựng mô hình hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn học ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực như chúng tôi xây dựng trên đây là mộtmột bước quan trọng trong thiết kế và tổ chức HĐTNST. Để thiết kế được HĐTNST cụ thể, cần căn cứ vào đặc điểm của đơn vị kiến thức và hoạt động cần được kiểm nghiệm trong thực tiễn DH ở trường phổ thông để hoàn thiện và đưa vào giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả DH.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau 2015 (bản dự thảo).

2. Kỷ yếu hội thảo (2014), Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh phổ thông, Bộ Giáo dục và đào tạo, Hà Nội tháng 8 năm 2014.

3. Lê Đình Trung – Phan Thị Thanh Hội (2016), Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

4. Trần Bá Hoành (2006), vấn đề giáo viên, những nghiên cứu lí luận và thực tiễn 2006, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

5. Kolb, D. (1984), Experiential Learning: experience as the source of learning and development. Englewood Cliffs, NJ: Prentice Hall.

6. Mayer R. E (1996), Learner as information procesing, Educational Psychologist, p 151 – 161.